Chi tiết tin

A+ | A | A-

Ban hành quy định việc đánh giá và xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Ngày đăng: 12:39 | 19/08/2014 Lượt xem: 675

Để cụ thể hóa tiêu chuẩn đánh giá, xét công nhận xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới trên đại bàn tỉnh. Trên cơ sở đề nghị của Chánh Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 2361/QĐ-UBND ngày 01/8/2014 Quy định việc đánh giá và xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Theo Quyết định số 2361/QĐUBND, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh (Ban Chỉ đạo tỉnh), Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh (Văn phòng Điều phối tỉnh) chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban, ngành liên quan triển khai thực hiện; Sở Thông tin và Truyền thông hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu về 19 tiêu chí nông thôn mới tích hợp trên Cổng thông tin điện tử nông thôn mới tỉnh để định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm, các Sở, ngành, địa phương (huyện/thành phố, xã) cập nhập kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, các nội dung Chương trình nhằm thuận lợi trong công tác quản lý, điều hành của Ban Chỉ đạo các cấp. Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành được UBND tỉnh giao nhiệm vụ phụ trách các tiêu chí nông thôn mới tại Công văn số 2232/UBND-KTN ngày 19/6/2013 xây dựng kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn các tiêu chí thuộc ngành mình phụ trách để các địa phương thực hiện; Thường xuyên cập nhật các văn bản quy định của các Bộ, ngành liên quan để kịp thời báo cáo UBND tỉnh (qua Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh) để điều chỉnh các nội dung cho phù hợp với quy định của cấp trên. Các thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh được phân công đứng điểm tại các xã, huyện/thành phố thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn, giám sát các địa phương trong việc thực hiện theo các nội dung của quyết định này; chỉ đạo việc lồng ghép các nội dung thuộc đơn vị quản lý để thực hiện đầu tư hỗ trợ cho các xã; kịp thời báo cáo những tồn tại, vướng mắc về Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh để theo dõi, chỉ đạo. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (gọi tắt là UBND cấp huyện) chỉ đạo, hướng dẫn các Phòng, đơn vị liên quan và Ban Chỉ đạo xã, UBND các xã thực hiện theo đúng quyết định này. Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, báo cáo về UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo tỉnh để xem xét, giải quyết, đồng thời định kỳ quý, 6 tháng, năm (vào ngày 20 của tháng cuối) các địa phương cập nhập kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới theo mẫu 21 kèm theo (qua hệ thống cơ sở dữ liệu 19 tiêu chí nông thôn mới); trong đó cần nêu rõ những việc đã hoàn thành, chưa hoàn thành theo từng tiêu chí đối với từng xã, nguyên nhân và đề xuất UBND tỉnh, Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh giải quyết tồn tại, vướng mắc từ cơ sở. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2014.

Về phạm vi và đối tượng áp dụng, quyết định này áp dụng cho việc đánh giá, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy định của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đối với các xã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (sau đây gọi tắt là Chương trình) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Đối tượng áp dụng là các xã, huyện/thành phố trên địa bàn tỉnh, được phân chia thành 02 khu vực để đánh giá (gồm: Khu vực 1: Các xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP: Nam Trà My, Phước Sơn, Tây Giang và các xã thuộc các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao: Đông Giang, Nam Giang, Bắc Trà My; Khu vực 2: các xã thuộc các huyện, thành phố còn lại) và Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình đánh giá, xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Đối với tiêu chí thu nhập (tiêu chí 10), UBND tỉnh quy định: Xã đạt tiêu chí Thu nhập khi có mức thu nhập bình quân đầu người/năm của xã đạt mức tối thiểu trở lên theo quy định vùng như sau: Năm 2014: Mức thu nhập bình quân đầu người trên năm của xã phải đạt tối thiểu: 16 triệu đồng đối với các xã thuộc khu vực 1; 21 triệu đồng đối với các xã thuộc khu vực 2;  Năm 2015: Mức thu nhập bình quân đầu người trên năm của xã phải đạt tối thiểu: 18 triệu đồng đối với các xã thuộc khu vực 1;  23 triệu đồng đối với các xã thuộc khu vực 2; Những năm tiếp theo thực hiện theo quy định của Trung ương và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo tỉnh.

Đối với tiêu chí Hộ nghèo (Tiêu chí 11), Xã được công nhận đạt tiêu chí hộ nghèo khi có tỷ lệ hộ nghèo của xã ở dưới mức tối thiểu theo quy định của vùng. Cụ thể như sau: Xã khu vực 1: Tỷ lệ hộ nghèo của xã dưới 10%; Xã khu vực 2: Tỷ lệ hộ nghèo của xã dưới 5%. Trường hợp sau đây cũng được xem xét đạt tiêu chí hộ nghèo: Đối với các xã đã phấn đấu bằng và vượt trên Nghị quyết, kế hoạch giảm nghèo hằng năm nhưng có tỷ lệ hộ nghèo thuộc diện không có khả năng thoát nghèo do nhiều nguyên nhân như già cả neo đơn, khuyết tật nặng, bệnh hiểm nghèo (ung thư, chạy thận nhân tạo…) vượt trên mức quy định nêu trên thì trong quá trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm UBND cấp xã tổng hợp, lập danh sách để quản lý riêng, đồng thời đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt kết quả điều tra, rà soát, trong đó có số hộ nghèo có khả năng thoát nghèo và hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo. UBND cấp huyện báo cáo UBND tỉnh, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh không tính hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo vào tỷ lệ hộ nghèo chung của xã khi xét công nhận tiêu chí hộ nghèo, làm cơ sở để xem xét, quyết định xã đạt tiêu chí hộ nghèo. Hộ nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người theo chuẩn hộ nghèo được Thủ tướng Chính phủ quy định áp dụng cho từng giai đoạn. Hiện nay (giai đoạn 2011-2015) áp dụng theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống. Công thức tính tỷ lệ hộ nghèo để đánh giá tiêu chí hộ nghèo: Tỷ lệ % hộ nghèo = (tổng số hộ nghèo : tổng số hộ dân) x 100. Quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo hằng năm thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội (hiện nay thực hiện theo Thông tư số 21/2012/TT-BLĐTBXH ngày 05/9/2012) và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở Lao động-Thương binh & Xã hội. Hằng năm, Sở Lao động, Thương binh & Xã hội tỉnh có trách nhiệm cung cấp kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo toàn tỉnh; số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của các xã, trong đó có số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo cho Ban Chỉ đạo tỉnh để làm cơ sở thực hiện việc xét, công nhận xã đạt chuẩn tiêu chí hộ nghèo trong chương trình nông thôn mới.

Đối với tiêu chí tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên (tiêu chí số 12), UBND tỉnh quy định:  Xã đạt tiêu chí khi có tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt từ 90% trở lên (Lao động có việc làm thường xuyên của xã là những người trong độ tuổi có khả năng lao động, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã, có thời gian làm việc bình quân 20 ngày công/tháng trở lên trong năm cả ở trong và ngoài địa bàn xã; Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên là tỷ lệ phần trăm (%) giữa số người lao động có việc làm thường xuyên trên tổng số dân trong độ tuổi lao động của xã).

Đối với tiêu chí giáo dục (tiêu chí số 14), Xã đạt tiêu chí giáo dục khi đáp ứng đủ 03 yêu cầu: Đạt phổ cập Giáo dục trung học cơ sở; Tỷ lệ học sinh THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc trung học, học nghề): xã khu vực 1 đạt 70%, xã khu vực 2 đạt 85% và Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở xã khu vực 1 phải đạt 20% trở lên, xã khu vực 2 đạt 35% trở lên (Lao động qua đào tạo là số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động đã được tham gia các khóa bồi dưỡng dạy nghề ngắn hạn hoặc đào tạo dài hạn (chính quy và không chính quy) được cấp các loại chứng chỉ, văn bằng như: chứng chỉ học nghề, bằng trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cao đẳng và đại học. Tỷ lệ lao động qua đào tạo là tỷ lệ phần trăm giữa số lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trên tổng số lao động trong độ tuổi của xã).
Quyết định này được ban hành là cơ sở để các ngành của tỉnh và các địa phương căn cứ rà soát, đánh giá, xét cộng nhận xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới./.

Tác giả: Hồ Xuân Khanh

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Liên Kết Website