Chi tiết tin

A+ | A | A-

Khuyến khích thoát nghèo bền vững là một trong những giải pháp về chính sách để hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững của tỉnh Quảng Nam

Ngày đăng: 17:48 | 23/07/2014 Lượt xem: 751

Thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững của Quốc gia thời kỳ 2011 – 2020, Chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo đạt hiệu quả thiết thực, nhiều công trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh được đầu tư xây dựng đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng bãi ngang ven biển, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm từ 2,5-3%, nhiều địa phương đạt mức giảm nghèo cao và duy trì kết quả giảm nghèo đó nhiều năm liền. Tuy nhiên, hiện nay kết quả giảm nghèo vẫn chưa đạt như mong muốn và chưa thực sự bền vững, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn còn cao so với mức bình quân chung của cả nước và khu vực duyên hải miền Trung, một bộ phận hộ nghèo không muốn thoát nghèo để tiếp tục hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước, một số hộ nghèo có ý thức vươn lên thoát nghèo nhưng chưa có chính sách khuyến khích hỗ trợ thoát nghèo bền vững. Bên cạnh đó, số hộ cận nghèo, số xã và thôn đặc biệt khó khăn, số xã và thôn có tỷ lệ nghèo cao còn nhiều, mức giảm còn thấp và chưa đồng đều; chênh lệch giữa đồng bằng và miền núi còn khá lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, nhất là vẫn còn những trường hợp đối tượng chính sách người có công là hộ nghèo.
Để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, khuyến khích, động viên, khơi dậy ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo của các hộ nghèo, thôn, bản có tỷ lệ hộ nghèo cao, ngay từ năm 2012 UBND tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng Đề án chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014-2015. Mục tiêu của Chính sách khuyến khích thoát nghèo theo Nghị quyết ban hành là nhằm tạo chuyển biến về nhận thức, hành động của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân đối với công tác giảm nghèo; động viên kịp thời số hộ mới thoát nghèo, số thôn có tỷ lệ nghèo cao đạt mức giảm nghèo theo quy định; hạn chế tái nghèo; nêu gương điển hình và phát động phong trào thoát nghèo trên địa bàn tỉnh, góp phần hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững.  Sau khi xem xét Tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh về đề nghị thông qua Đề án thực hiện chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014-2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; Báo cáo thẩm tra của Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến thảo luận tại kỳ họp Hội đồng nhân đan tỉnh Khóa VIII, kỳ họp thứ 11. Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết nghị ban hành Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 về thực hiện chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014 -2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Tuy ngân sách tỉnh còn nhiều khó khăn, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ chi cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là các cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh như hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao chưa được hưởng cơ chế hỗ trợ của trung ương (bình quân mỗi năm cân đối 45 tỷ đồng/03 huyện), hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương.... nhưng tỉnh Quảng Nam vẫn quyết tâm ban hành chính sách khuyến khích thoát nghèo là nỗ lực lớn của tỉnh, thể hiện sự tập trung, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác giảm nghèo và đây là chính sách đột phá của tỉnh Quảng Nam để hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững của quốc gia đến năm 2020. Chính sách này được các tỉnh, thành phố và các Bộ ngành trung ương  đồng thuận và đánh giá cao.

Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết là phấn đấu mỗi năm đạt tối thiểu 2.500 hộ nghèo/12.500 nhân khẩu nghèo tự nguyện đăng ký thoát nghèo và không tái nghèo tối thiểu 3 năm liên tiếp kể từ thời điểm được công nhận thoát nghèo; phấn đấu đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 80 thôn có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% trở lên đạt tiêu chuẩn và mức giảm nghèo theo quy định; giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn dưới 9%; giảm tỷ lệ hộ cận nghèo còn dưới 5%; tăng cường cơ sở hạ tầng về sản xuất và dân sinh cho các thôn có tỷ lệ hộ nghèo cao đạt tiêu chuẩn và mức giảm nghèo theo quy định thông qua việc thưởng công trình để góp phần đạt tiêu chí nông thôn mới.

Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững được áp dụng trên phạm vi toàn tỉnh. Đối tượng áp dụng là hộ nghèo đã thoát nghèo vượt qua chuẩn cận nghèo và Thôn có tỷ lệ hộ nghèo từ 30% trở lên có cam kết và đăng ký thoát nghèo. Điều kiện để được hưởng chính sách đối với hộ thóa nghèo là Hộ nghèo (lấy năm 2013 làm năm gốc), có đơn tự nguyện cam kết thoát nghèo, vượt qua chuẩn cận nghèo theo quy định hiện hành tối thiểu 3 năm liên tiếp kể từ thời điểm được công nhận thoát nghèo. Sau khi điều tra, rà soát hằng năm được UBND cấp xã quyết định công nhận đã thoát nghèo nhưng phải vượt qua chuẩn cận nghèo quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Không áp dụng đối với các hộ nghèo không tự nguyện cam kết thoát nghèo. Đối với thôn đăng ký đạt tiêu chuẩn và mức giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm phải có xây dựng và triển khai kế hoạch giảm nghèo với những giải pháp, biện pháp giảm nghèo sát đúng với thực tế, điều kiện của thôn theo địa chỉ và nguyên nhân nghèo của từng hộ nghèo, cận nghèo; tổ chức điều tra, rà soát xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo đúng quy trình, không bỏ sót hộ nghèo, cận nghèo; tổng hợp, báo cáo kết quả điều tra hộ nghèo, cận nghèo và kết quả thực hiện chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo với cấp trên đúng quy định; không có vi phạm về việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo và quy trình điều tra, rà soát xác định hộ nghèo hằng năm trên địa bàn; không có hộ chính sách, người có công thuộc diện nghèo; không có hộ tái nghèo, trừ các trường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; có đăng ký giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 6% trở lên, hộ cận nghèo từ 4% trở lên và giảm 02 năm liên tục kể từ năm 2014. Thời gian hộ nghèo đăng ký thoát nghèo thực hiện trong năm 2014 và 2015. Đối với thôn nghèo thực hiện đăng ký 01 lần vào năm 2014. Thời gian thụ hưởng chính sách của Nghị quyết kể từ năm 2015 đến năm 2018.

Các chính sách khuyến khích đối với hộ thoát nghèo, gồm: Hỗ trợ 100% mệnh giá mua thẻ bảo hiểm y tế theo loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện trong thời gian 24 tháng; miễn học phí cho học sinh các cấp phổ thông; hỗ trợ chi phí học tập theo mức 70.000 đồng/học sinh/tháng cho trẻ em học mẫu giáo và học sinh các cấp phổ thông, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em 3,4,5 tuổi theo mức 120.000 đồng/em/tháng (9 tháng/năm), cấp bù 50% học phí cho học sinh, sinh viên học chính quy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học và các chính sách hỗ trợ về giáo dục nêu trên được thực hiện trong 02 năm học liên tục; Được bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay để phát triển sản xuất kinh doanh, xuất khẩu lao động với mức vay tối đa là 20.000.000 đồng/hộ, thời gian vay không quá 36 tháng; được thưởng bằng tiền với mức 5.000.000 đồng/hộ thoát nghèo. Các chính sách y tế, giáo dục, tín dụng và tiền thưởng nêu trên được thực hiện một lần sau khi hộ nghèo có cam kết và được công nhận thoát nghèo. Đối với thôn thoát nghèo (đạt tiêu chuẩn và mức giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 6% trở lên, hộ cận nghèo từ 4% trở lên và giảm 02 năm liên tục kể từ năm 2014) thì được thưởng bằng công trình cần thiết cho cộng đồng của thôn, trị giá 300.000.000 đồng/thôn và thưởng một lần sau hai năm liên tiếp được công nhận kể từ thời điểm đăng ký.
Về kinh phí thực hiện chính sách khuyến khích đối với hộ nghèo được thực hiện theo từng nội dung và theo khả năng cân đối ngân sách của tỉnh và huyện, thành phố, cụ thể: (a) Nguồn kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế  tự nguyện; cấp bù 50% học phí cho học sinh, sinh viên nghèo học chính quy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học được phân cấp thực hiện như sau: Các huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Phước Sơn: Ngân sách tỉnh đảm bảo 100%; Các huyện: Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Phú Ninh, Thăng Bình: Ngân sách tỉnh 50%, ngân sách huyện 50%; Các huyện, thành phố: Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành, Điện Bàn: Tự cân đối từ ngân sách địa phương. Ngân sách tỉnh đảm bảo 100% kinh phí thực hiện các chính sách sau: Hỗ trợ chi phí học tập theo mức 70.000 đồng/học sinh/tháng cho trẻ em học mẫu giáo, học sinh các cấp phổ thông; hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ từ 3 - 5 tuổi theo mức 120.000 đồng/trẻ/tháng (9 tháng/năm); Thưởng bằng tiền mặt 5.000.000 đồng/hộ thoát nghèo. Đối với chính sách miễn học phí cho học sinh con của hộ thoát nghèo đang theo học ở các cấp phổ thông thì được thực hiện trực tiếp tại trường, ngân sách đảm bảo kinh phí hoạt động dạy và học cho các trường khi thực hiện miễn học phí theo quy định. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho hộ thoát nghèo được quy định tại tiết a, điểm 1, Khoản III, Điều 1 Nghị quyết này.
Đối với chính sách khuyến khích cho thôn đạt tiêu chuẩn và mức giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm từ 6% trở lên, hộ cận nghèo từ 4% trở lên và giảm 02 năm liên tục kể từ năm 2014, các huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Phước Sơn: Ngân sách tỉnh đảm bảo 100%; các huyện: Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Phú Ninh, Thăng Bình: Ngân sách tỉnh 50%, ngân sách huyện 50%; các huyện, thành phố: Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành, Điện Bàn: Tự cân đối từ ngân sách địa phương để thực hiện chính sách này./.

Tác giả: Hồ Xuân Khanh

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Liên Kết Website