Chi tiết tin

A+ | A | A-

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình giảm nghèo từ năm 2011-2015

Ngày đăng: 21:39 | 16/06/2015 Lượt xem: 16804

Thực hiện Kế hoạch số 163-KH/TU ngày 17/4/2015 của Tỉnh ủy Quảng Nam về tổ chức Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 22 (khóa XX), Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu dự thảo báo cáo cho Ủy ban nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2011-2015 . Toàn văn dự thảo báo cáo như sau:

Phần thứ nhất

THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI CUỐI NĂM 2010 (ĐẦU NĂM 2011)

1. Số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo và tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của tỉnh còn cao so với cả nước, khu vực và tập trung chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, cuối năm 2010 đầu năm 2011, toàn tỉnh có 90.109 hộ/310.932 khẩu nghèo, chiếm tỷ lệ 24,18% (cả nước 14,20%), trong đó có 21.669 hộ dân tộc thiểu số với 99.233 khẩu, chiếm tỷ trọng 24,05% trong tổng số hộ nghèo của tỉnh và chiếm tỷ lệ 75,39% tổng số hộ dân tộc thiểu số trong tỉnh; có 52.265 hộ cận nghèo, tỷ lệ 14,02% (cả nước 7,49%). Khu vực thành thị (31 phường, thị trấn) có 7.880 hộ nghèo, tỷ lệ 11,96%; khu vực nông thôn (213 xã) có 82.229 hộ nghèo, tỷ lệ 26,80%.

2. Nhiều hộ nghèo đời sống sản xuất, sinh hoạt còn nhiều khó khăn

Trong 90.109 hộ nghèo toàn tỉnh, có 17.731 hộ nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà tạm bợ, dột nát, xiêu vẹo, chiếm 19,68%; 2.347 hộ nghèo có đất ở không thuộc quyền sở hữu của hộ mà phải thuê mướn hoặc sống chung với gia đình, người thân, chiếm tỷ lệ 2,6%; 8.343 hộ nghèo chưa có điều kiện sử dụng điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt do thiếu điều kiện hoặc sinh sống ở vùng chưa có điện, chiếm tỷ lệ 9,26%; 25.518 hộ sử dụng nước sông, suối, ao hồ để sinh hoạt, tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi cao.

3. Nguyên nhân nghèo đa dạng, phức tạp, nhiều hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Ngoài nguyên nhân nghèo do yếu tố khách quan như thiên tai, tai nạn, ốm đau, rủi ro ngoài ý muốn và nguyên nhân nghèo do hậu quả của việc ban hành và tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách không phù hợp, tác động xấu đến sản xuất và sinh hoạt, nhận thức của hộ dân; do thiếu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và địa phương,... thì các nguyên nhân nghèo chủ quan (nghèo xấu) xuất phát từ một số hộ dân như nhận thức trách nhiệm không đầy đủ trong việc tự lực phấn đấu lao động để vươn lên thoát nghèo, tư tưởng muốn thụ hưởng chính sách giảm nghèo trong thời gian dài, bản thân lười lao động, không chịu tổ chức sản xuất kinh doanh; một số nguyên nhân khác như gia đình không có hoặc thiếu lao động, đất đai, tay nghề, việc làm, nguồn vốn, kiến thức và kinh nghiệm làm ăn,... cũng dẫn đến nghèo đói.

Trong nhóm các nguyên nhân nghèo của hộ nghèo điều tra cuối năm 2010 thì nguyên nhân nghèo do ốm đau nặng, mắc tệ nạn xã hội có 21.173 hộ, chiếm 23,5% (cao nhất), tiếp đến là do thiếu vốn (17.680 hộ, chiếm 19,62%), thiếu lao động (13.761 hộ, chiếm 15,27%), đông người ăn theo (9.698 hộ, chiếm 10,76%), không biết cách làm ăn, không có tay nghề (9.006 hộ, chiếm 9,99%), thiếu đất canh tác có 5.940 hộ, chiếm 6,59%, có lao động nhưng không có việc làm 5.063 hộ, chiếm 5,62% cũng cần được quan tâm giải quyết.

4. Số huyện, xã  và thôn nghèo, đặc biệt khó khăn của tỉnh nhiều, tỷ lệ nghèo bình quân cao, nhất là các xã nghèo miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Khu vực miền núi của tỉnh có 09 huyện, trong đó có 03 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (Tây Giang, Phước Sơn, Nam Trà My), 03 huyện có tỷ lệ nghèo cao (trên 50%) được hưởng cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng theo Nghị quyết 30a (Đông Giang, Nam Giang, Bắc Trà My); có 134 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, tỷ lệ nghèo bình quân 46,23%; có 78 xã nghèo đặc biệt khó khăn (21 xã nghèo đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (chương trình 257), tỷ lệ nghèo bình quân 23,72% và 57 xã đặc biệt khó khăn khu vực miền núi (chương trình 135), tỷ lệ nghèo bình quân lên đến 75,75%.

Phần thứ hai

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO

GIAI ĐOẠN 2011-2015

Từ thực trạng nghèo đói đầu năm 2011 và kinh nghiệm thực hiện công tác giảm nghèo những năm qua. Căn cứ Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của trung ương. UBND tỉnh chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội làm cơ quan thường trực Chương trình hỗ trợ giảm nghèo tham mưu Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, giải pháp hỗ trợ giảm nghèo thiết thực, hiệu quả.

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành đã được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, liên tục và có cách làm sáng tạo, hiệu quả; là thành tựu nổi bậc  trong chỉ đạo, điều hành thực hiện công tác giảm nghèo và được trung ương đánh giá cao, cụ thể:

a) UBND tỉnh xây dựng, trình Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 01/10/2012 thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Hội nghị Trung ương 5 (khoá XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”; Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh trình Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ 15 (Khoá XX) Báo cáo kết quả thực hiện công tác giảm nghèo từ năm 2010-2013; nhiệm vụ, giải pháp giảm nghèo nhanh và bền vững và Tỉnh ủy có Kết luận số 96-KL/TU ngày 22/7/2013 về đẩy mạnh công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.

b) UBND tỉnh xây dựng, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 55/2012/NQ-HĐND ngày 19/9/2012 về Chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2016 và định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 về thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014-2015.

c) Căn cứ các Nghị quyết của HĐND tỉnh, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định, Kế hoạch, Công văn chỉ đạo thực hiện cụ thể. Tiếp tục chỉ đạo các ngành và các địa phương thực hiện tốt Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 30/11/2001 của Tỉnh ủy về tập trung lãnh đạo Chương trình xóa đói giảm nghèo; Chỉ thị số 56-CT/TU ngày 25/5/2009 của Tỉnh ủy về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ và hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo.

d) UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng bộ máy tổ chức cán bộ làm công tác giảm nghèo và từng bước đi vào hoạt động có hiệu quả như thành lập, kiện toàn và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Chương trình giảm nghèo; phân công các thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình đứng điểm, phụ trách theo địa bàn từng huyện, thành phố về công tác giảm nghèo; ban hành Kế hoạch kiểm tra, giám sát và bố trí kinh phí cho các Thành viên BCĐ giảm nghèo đi kiểm tra, giám sát theo địa bàn phân công; thành lập Văn phòng Chương trình giảm nghèo của tỉnh đặt tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để tham mưu, theo dõi, đề xuất BCĐ và UBND về công tác giảm nghèo. Chỉ đạo cấp xã bố trí công chức phụ trách công tác lao động - thương binh và xã hội theo dõi công tác giảm nghèo (hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 30% mức tiền lương cơ sở), riêng huyện Núi Thành thực hiện hợp đồng 01 cán bộ theo dõi chuyên trách công tác giảm nghèo và đào tạo nghề làm việc và hưởng chế độ theo hợp đồng lao động.

e) Chỉ đạo các Sở, ngành, Ban Chỉ đạo giảm nghèo tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ chủ trì, phối hợp hướng dẫn, triển khai kịp thời, đồng bộ, đúng quy định các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo chung của quốc gia và của địa phương.

2. Giai đoạn 2011-2015, đã huy động được nhiều nguồn vốn và phân bổ vốn ngân sách thực hiện chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo đúng quy định, phát huy hiệu quả

Tổng vốn huy động và phân bổ thực hiện các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2011-2015 là 7.183,459 tỷ đồng. Chi tiết tại Phụ lục số 01 đính kèm.

a) Ngân sách Trung ương bố trí thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo của Trung ương: 6.104,109 tỷ đồng (Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững theo Quyết định số 1489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: 1.358,673 tỷ đồng).

b) Ngân sách tỉnh bố trí thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù của tỉnh là 858,360 tỷ đồng.

c) Nguồn huy động: 141,850 tỷ đồng.

3. Các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo đã được chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ, đạt nhiều kết quả, giải quyết được các khó khăn bức xúc của hộ nghèo, cận nghèo và của thôn, xã và huyện nghèo

3.1 Đã thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo chung của quốc gia theo Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ.

a) Đã cho 50.342 lượt hộ nghèo vay, doanh số 771,137 tỷ đồng, 10.891 lượt hộ cận nghèo, doanh số 262,467 tỷ đồng; 45.942 lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay, doanh số 673,658 tỷ đồng; 220 lao động vay đi xuất khẩu lao động, số tiền 6,583 tỷ đồng (118 lao động tại các huyện nghèo, kinh phí 2,890 tỷ đồng); đưa 772 lao động đi xuất khẩu lao động tại các thị trường lao động, trong đó có 114 lao động tại các huyện nghèo theo Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg; hỗ trợ dạy nghề cho 22.267 lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, kinh phí 30,8 tỷ đồng (2.938 lao động thuộc hộ nghèo, 879 lao động thuộc hộ cận nghèo).

b) Thực hiện cấp bù học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP của Chính phủ cho 488.369 học sinh, sinh viên, kinh phí 298,594 tỷ đồng (cấp bù học phí: 55.626 sinh viên); cấp 41,605 tỷ đồng để hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em 3, 4, 5 tuổi theo Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg và Quyết định 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

c) Cấp 1.465.085 thẻ bảo hiểm y tế người nghèo và cận nghèo, kinh phí 677,172 tỷ đồng, trong đó cấp miễn phí 939.231 thẻ BHYT người nghèo, kinh phí 492,407 tỷ đồng; hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho 525.854 người cận nghèo, kinh phí 184,570 tỷ đồng. Triển khai thực hiện chế độ hỗ trợ cho các đối tượng theo quy định tại Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo và chính sách hỗ trợ phẫu thuật tim bẩm sinh cho trẻ em nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội theo Quyết định số 55a/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

d) Hỗ trợ xây dựng 10.836 nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg, kinh phí 150 tỷ đồng. Thực hiện hỗ trợ 100 chòi tránh lũ (Đại Lộc và Điện Bàn), kinh phí 01 tỷ đồng.

đ) Trợ giúp pháp lý cho 1.503 lượt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg và người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo theo Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó trợ giúp pháp lý tại 03 huyện nghèo theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg 1.072 người/12 đợt trợ giúp lưu động và thành lập, củng cố 32 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại 32 xã của 03 huyện nghèo để sinh hoạt và trợ giúp pháp lý tại địa phương.

e) Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hoá, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hoá, thông tin về cơ sở; đa dạng hoá các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo.

f) Một số chính sách hỗ trợ đặc thù và an sinh xã hội khác

Cấp 50 tỷ đồng (2011-2014) đầu tư xây dựng các công trình nước sinh hoạt hỗ trợ nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 1592/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; 24,020 tỷ đồng đầu tư 09 điểm định canh, định cư tập trung và xen ghép cho đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ nâng cao đời sống cho 773.067 nhân khẩu thuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, số tiền 71,613 tỷ đồng (như cấp không giống cây trồng (lúa, ngô, đậu,...), giống vật nuôi (gà, cá nước ngọt...), muối và tiền mặt; hỗ trợ tiền điện cho 297.204 hộ nghèo, kinh phí 106,993 đồng,...

3.2 Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững (Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ) - Chi tiết tại phụ lục số 1

a) Dự án 1 đầu tư 876,515 tỷ đồng, thực hiện hỗ trợ đầu tư xây dựng, sửa chữa 526 công trình cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh tại 06 huyện nghèo, kinh phí 642,255 tỷ đồng (Tiểu dự án 1 - CSHT Chương trình 30a); hỗ trợ đầu tư 174 công trình tại các xã nghèo ĐBKK vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, số tiền 98,708 tỷ đồng (Tiểu dự án 2- CSHT Chương trình 257); cấp 72,982 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) để thực hiện các chế độ chính sách đặc thù của Nghị quyết 30a (Tiểu Dự án 3) như hỗ trợ hộ dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng (Nam Trà My, Phước Sơn), hỗ trợ gạo đối với hộ nghèo giáp biên giới (Tây Giang), hỗ trợ một lần cây trồng, con vật nuôi có giá trị kinh tế cao, hỗ trợ hộ nghèo phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung làm chuồng trại, khai hoang, phục hóa, tăng cường cán bộ khuyến nông, lâm, ngư; xây dựng,...

b) Dự án 2 đầu tư 472,533 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), trong đó hỗ trợ đầu tư xây dựng 635 công trình cơ sở hạ tầng các loại, kinh phí 380,4 tỷ đồng.

c) Dự án 3 (Nhân rộng mô hình giảm nghèo) phân bổ 3,5 tỷ đồng để hỗ trợ đầu tư xây dựng, nhân rộng 07 mô hình giảm nghèo tại 07 xã với 378 hộ nghèo tham gia hưởng lợi, cụ thể: Năm 2011, đầu tư Mô hình trồng cỏ chăn nuôi bò cái sinh sản tại xã Đại Chánh, huyện Đại Lộc (70 hộ/511 triệu) và xã Bình Quế, huyện Thăng Bình (70 hộ/462 triệu); năm 2012, đầu tư mô hình nuôi nhím sinh sản tại xã Trà Sơn, huyện Bắc Trà My (27 hộ/520 triệu và mô hình nuôi gà thả vườn an toàn dịch bệnh tại xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước (98 hộ/480 triệu đồng); năm 2013, nhân rộng mô hình nuôi nhím sinh sản tại xã Ba, huyện Đông Giang (26 hộ/500 triệu) và mô hình nuôi bò cái sinh sản và mô hình nuôi bồ câu thương phẩm tại xã Bình Sơn, huyện Hiệp Đức (37 hộ/500 triệu); năm 2014, nhân rộng mô hình chăn nuôi bò cái lai sinh sản tại xã Bình Nam, Thăng Bình (50 hộ/500 triệu). Bình quân mỗi năm bố trí 875 triệu đồng, số hộ nghèo tham gia dự án mô hình đã thoát nghèo 219 hộ, đạt 57,94% số hộ tham gia, vượt mục tiêu dự án đề ra. Kế hoạch năm 2015 đầu tư xây dựng 02 mô hình tại 02 xã nghèo (xã Trà Giác, Bắc Trà My: Mô hình nuôi bò cái sinh sản; xã Tam Tiến huyện Núi Thành: Mô hình nuôi bò cái sinh sản và đánh bắt hải sản gần bờ), kinh phí 01 tỷ đồng (500 triệu đồng/xã).

d) Dự án 4 bố trí 5,105 tỷ đồng để hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện Chương trình. Kết quả đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, tham vấn, đối thoại chính sách giảm nghèo cho trên 1.100 lượt cán bộ làm công tác giảm nghèo của các cấp (huyện, xã và trưởng thôn, khối phố, người nghèo), xây dựng, vận hành website giảm nghèo của tỉnh (giamngheo.sldtbxh.quangnam.gov.vn), phần mềm quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo trực tuyến (qlhongheo.sldtbxh.quangnam.gov.vn),... để phục vụ tuyên truyền, quản lý đối tượng, tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo cũng như chỉ đạo điều hành, xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách.

3.3 Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù của tỉnh ban hành đã được triển khai hiệu quả, góp phần trợ giúp người nghèo, cận nghèo, địa phương miền núi giải quyết khó khăn, bức xúc về y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng; người thoát nghèo được tiếp tục hỗ trợ (y tế, giáo dục, tín dụng, thưởng) để thoát nghèo bền vững, tạo nhận thức mới trong công tác giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội.

a) Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND đã giải quyết cấp bù 50% học phí cho trên 8.449 lượt học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo (ngoài quy định của TW), kinh phí trên 9,87 tỷ đồng; hỗ trợ 30% mệnh giá thẻ BHYT cho 591.387 người cận nghèo, kinh phí 85,854 tỷ đồng; hỗ trợ 1,490 tỷ đồng để thực hiện chính sách cấp bù 5% chi phí cùng chi trả viện phí cho người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, ĐBKK; cấp 3,8 tỷ đồng để chi trả 30% phụ cấp cho 244 cán bộ theo dõi công tác giảm nghèo ở cấp xã.

b) Nghị quyết số 55/2012/NQ-HĐND: Từ năm 2012-2015, ngân sách tỉnh đã cấp 170,5 tỷ đồng để  hỗ trợ đầu tư xây dựng 78 công trình kết cấu hạ tầng cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhưng chưa được hưởng chính sách hỗ trợ cho các huyện nghèo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ (Chương trình 30c), bao gồm Đông Giang, Nam Giang (2012-2014), Nông Sơn (2012-2015), Tiên Phước, Hiệp Đức (2014-2015). Ngoài ra, đã bố trí vốn để thực hiện 114 công trình thanh toán khối lượng công trình chuyển tiếp. Nâng tổng số hạng mục được đầu tư phân bổ vốn lên 192 công trình các loại.

c) Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND: Thực hiện cho giai đoạn 2014-2015. Riêng năm 2014, toàn tỉnh có 5.260 hộ nghèo/21.183 khẩu đăng ký thoát nghèo bền vững, vượt qua chuẩn cận nghèo; 37 thôn đăng ký đạt tiêu chuẩn và mức giảm tỷ lệ hộ nghèo. Tổng nhu cầu kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách đối với 5.260 hộ đăng ký thoát nghèo năm 2014 đã thoát nghèo, đủ điều kiện hưởng các chính sách của Nghị quyết số 119 là 91,138 tỷ đồng, trong đó năm 2015 nhu cầu kinh phí thực hiện là 48.748.000.000 đồng, gồm: Ngân sách tỉnh 44,942 tỷ đồng, Ngân sách huyện, thị xã, thành phố là 3,806 tỷ đồng. Ngân sách tỉnh đã bố trí 22,320 tỷ đồng. Hiện nay các địa phương đang triển khai giải quyết các chế độ, chính sách theo quy định.

d) Chương trình phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 tại Nghị quyết số 143/NQ-HĐND ngày 22/7/2009 của HĐND tỉnh: Tổng kinh phí phân bổ 2011-2014 là 312 tỷ đồng, đầu tư xây dựng 967 km đường giao thông nông thôn.

đ) Chính sách cho vay hộ nghèo, giải quyết việc làm: Từ năm 2011-2015, ngân sách tỉnh đã bố trí 44 tỷ đồng để bổ sung vào nguồn vốn cho Chi nhánh Ngân hàng CSXH để cho vay theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gồm cho vay hộ nghèo (24 tỷ đồng) và giải quyết việc làm (20 tỷ đồng).

e) Ngoài ra, để góp phần đảm bảo an sinh xã hội, trợ giúp hộ nghèo đón Tết Cổ truyền dân tộc, năm 2011 và 2012 ngân sách tỉnh đã chi 41,865 tỷ đồng để hỗ trợ 169.591 hộ nghèo đón Tết cổ truyền dân tộc.

4. Thông qua việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tác động trực tiếp từ các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo, mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đã đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra

4.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chung

Giai đoạn 2011-2015, trong điều kiện là tỉnh có tỷ lệ nghèo cao (2010: 24,18%) và cao nhất khu vực (17,26%) và gấp 02 lần so với cả nước (14,2%), thiên tai, dịch bệnh và suy giảm kinh tế đã tác động, ảnh hưởng lớn đến công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo, nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết tâm, tập trung nỗ lực phấn đấu và đã hoàn thành vượt mục tiêu giảm nghèo mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã đề ra là "Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm 2,5% - 3%/năm". Đồng thời, thông qua tác động từ các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo, tình hình đời sống của người dân nói chung, của người nghèo, cận nghèo, thôn nghèo, xã nghèo nói riêng đã được cải thiện rõ rệt, nhất là về y tế, giáo dục và nhà ở. Nhiều công trình cơ sở hạ tầng tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được đầu tư xây dựng theo tiêu chí nông thôn mới, nhất là hệ thống giao thông, trường học, trạm y tế và công trình thuỷ lợi ngày càng hoàn thiện, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông, phát triển sản xuất, giảm dần khoảng cách giữa đồng bằng và miền núi. Tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh và các huyện nghèo, xã nghèo đặc biệt khó khăn giảm nhanh, đạt và vượt mục tiêu mà Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020 (giảm 02%/năm, trong đó các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm).

4.2 Kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo

4.2.1 Về kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo (Chi tiết từng địa phương chia theo từng năm tại Phụ lục số 02 đính kèm)

a) Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh bình quân hằng năm giai đoạn 2010 -2015 là 3,04%/năm (năm 2010: 24,18%; ước thực hiện năm 2015 là 9%), vượt so với mục tiêu đề ra theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX (giảm từ 2,5-3%/năm), Kết luận số 96-KL/TU ngày 20/7/2013 của Tỉnh ủy (Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 12%, bình quân mỗi năm giảm từ 2,5%-03%), Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 (còn dưới 12% vào năm 2015) và đạt so với mục tiêu Nghị quyết 119/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 (còn dưới 9% vào năm 2015).

b) Tỷ lệ hộ nghèo của khu vực đồng bằng (09 huyện) giảm từ 16,45% năm 2010 còn 6,16% năm 2014 và dự kiến giảm còn 4,0% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 2,49%, không đạt mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh (giảm từ 2,5-3%/năm).

c) Tỷ lệ giảm hộ nghèo của khu vực miền núi (09 huyện) giảm từ 57,95% năm 2010 xuống còn 36,98% năm 2014 và dự kiến giảm còn 32% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 5,19%, đạt so với mục tiêu Nghị quyết số 55/2012/NQ-HĐND ngày 19/9/2012 của HĐND tỉnh về Chương trình tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013 - 2016 và định hướng đến năm 2020.

c.1 Tỷ lệ giảm hộ nghèo chung của 06 huyện nghèo (theo NQ 30a/2008/NQ-CP: Nam Trà My, Tây Giang, Phước Sơn; Quyết định số 615/QĐ-TTg: Bắc Trà My, Quyết định số 293/QĐ-TTg: Nam Giang, Đông Giang) đạt và vượt so với mục tiêu của Chính phủ và của tỉnh quy định (giảm bình quân mỗi năm 4% trở lên), cụ thể: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 69,14% năm 2010 xuống còn 49,9% năm 2014, dự kiến giảm còn 44,6% năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 4,91%/năm, trong đó 03 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 74,98% năm 2010 xuống còn 53,70% năm 2014, dự kiến giảm còn 48% năm 2015, bình quân giảm 5,4%/năm, vượt mục tiêu Nghị quyết 30a.

c.2 Tỷ lệ hộ nghèo các xã thuộc Chương trình 135 giảm bình quân 6,55% từ 75,75% năm 2010 (của 57 xã) xuống còn 47,62% năm 2014, dự kiến giảm còn 43% vào cuối năm 2015 (85 xã). Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo của các xã nghèo thuộc Chương trình 135 đạt và vượt so với mục tiêu của Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ (4%/năm).

d) Tỷ lệ hộ nghèo các xã nghèo vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (thuộc Chương trình 257) bình quân mỗi năm giảm 3,04%/năm, từ 23,72% năm 2010 (21 xã) xuống còn 10,32% năm 2014, dự kiến giảm còn 8,5% cuối năm 2015 (19 xã). Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo của các xã nghèo thuộc Chương trình 257 không đạt mục tiêu so với Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ (4%/năm). Nguyên nhân là do tỷ lệ hộ nghèo bình quân của các xã nghèo bãi ngang ven biển có tỷ lệ nghèo thấp (bình quân là 23,72%; xã thấp nhất là 15,07%), trong khi đó số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo ở các xã nghèo này chiếm tỷ lệ trọng lớn trong tổng số hộ nghèo (bình quân 35% trong tổng số hộ nghèo).

 4.2.2 Về kết quả giảm tỷ lệ hộ cận nghèo

Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm chậm, bình quân mỗi năm giảm 1,4% (từ 14,02% năm 2010, giảm còn 9,15% năm 2014). Dự kiến giảm còn 7% cuối năm 2015. Mức giảm tỷ lệ hộ cận nghèo chưa đạt mục tiêu theo kế hoạch đề ra (theo Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011, giảm còn dưới 5% vào năm 2015, bình quân giảm 02%/năm). Nguyên nhân là do số hộ nghèo vươn lên ở cận nghèo chưa thoát qua chuẩn cận nghèo, mặt khác số hộ có mức sống trên chuẩn cận nghèo có nguy cơ rơi cận nghèo nhiều, nhất là do nguy cơ thiên tai, dịch bệnh và thiếu việc làm, thất nghiệp, không có đất sản xuất, một mặt một số địa phương đưa hộ nghèo lên cận nghèo để giảm tỷ lệ nghèo theo kế hoạch hoặc tránh "xung đột", "mất lòng" với hộ dân (hộ cận nghèo được hưởng một số chính sách ưu đãi về y tế, tín dụng).

4.2.3 Về kết quả giảm số xã nghèo

Toàn tỉnh giảm được 02 xã nghèo đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (Chương trình 257), đó là xã Tam Phú, Tam Thanh của thành phố Tam Kỳ (02 xã trên đã được công nhận xã nghèo ĐBKK vùng bãi ngang ven biển và được đầu tư kể từ năm 2004).

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Mặt được

a) Công tác giảm nghèo được các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể nhân dân và toàn xã hội quan tâm, tham gia vào cuộc; đã được xã hội hóa và được thực hiện đồng bộ, cơ bản kịp thời góp phần thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững, trong đó trung ương, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo, riêng đối với tỉnh Quảng Nam HĐND tỉnh ban hành 03 Nghị quyết chuyên đề về giảm nghèo, UBND tỉnh ban hành một số Đề án phát triển kinh tế - xã hội để hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, từ đó giải quyết kịp thời các vấn đề cơ bản, bức xúc của hộ nghèo, cận nghèo, thôn, xã và huyện nghèo về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, khám, chữa bệnh, học tập, vay vốn, cơ sở hạ tầng.

b) Nguồn lực của nhà nước cũng như nguồn lực huy động từ xã hội cho công tác giảm nghèo tương đối lớn (trên 7.069 tỷ đồng), ngân sách phân bổ năm sau cao hơn năm trước và có sự đầu tư tập trung, trọng điểm theo thứ tự ưu tiên đối với thôn, xã và huyện nghèo, đối với nhóm hộ nghèo đặc thù.

c) Các chế độ, chính sách giảm nghèo giải quyết cơ bản kịp thời, đúng quy định. Trong quá trình thực hiện công tác giảm nghèo, đã có nhiều địa phương có cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, đã cụ thể hóa chủ trương thành Nghị quyết, chương trình, kế hoạch,... và triển khai một cách khoa học, phù hợp thực tiễn, phát huy dân chủ, tổ chức thực hiện đồng bộ, kịp thời, gắn với chương trình cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc theo dõi, quản lý đối tượng và công khai các chế độ, chính sách giảm nghèo như Núi Thành, Đông Giang, Bắc Trà My, Điện Bàn, Hội An.

d) Công tác theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát đánh giá và sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo được một số ngành, địa phương thực hiện kịp thời, đúng quy định.

2. Mặt tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.1 Mặt tồn tại, hạn chế

a) Tỷ lệ hộ nghèo tuy giảm nhanh nhưng vẫn còn cao hơn so với bình quân chung của cả nước (ước 2015, Quảng Nam còn dưới 9%, cả nước 5%); các huyện nghèo, miền núi tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm nhiều nhưng thực chất số lượng hộ nghèo giảm không nhiều (Miền núi giảm 1% hộ nghèo, tương ứng chỉ với 571 hộ trong khi đồng bằng giảm 1% hộ nghèo lại giảm đến 2.934 hộ); kết quả giảm nghèo chưa bền vững (tỷ lệ nghèo giảm nhưng tỷ lệ cận nghèo tăng), chênh lệch giữa khu vực đồng bằng và khu vực miền núi còn khá lớn (miền núi cao hơn đồng bằng gấp 8 lần: đồng bằng: 4%, miền núi: 32%); số lượng xã nghèo, huyện nghèo nhiều (104 xã nghèo (85 xã thuộc Chương trình 135 và 19 xã thuộc Chương trình 257) và 06 huyện nghèo), vẫn còn 02 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50% (Nam Trà My và Nam Giang), 04 huyện có tỷ lệ nghèo trên 40% (Nông Sơn, Phước Sơn, Tây Giang, Bắc Trà My).

b) Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo ở một số địa phương, ngành chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, không có kế hoạch, giải pháp giảm nghèo cụ thể cho từng nhóm hộ nghèo; công tác điều tra xác nhận hộ nghèo, cận nghèo còn nhiều sai sót, có nơi còn mang tính đối phó (đưa từ hộ nghèo sang cận nghèo để giảm tỷ lệ nghèo nên tỷ lệ cận nghèo tăng mà không giảm), nhiều địa phương chưa phân loại hộ nghèo theo nguyên nhân nghèo để có giải pháp hỗ trợ phù hợp; công tác kiểm tra, giám sát và hoạt động của BCĐ giảm nghèo chưa thường xuyên; bộ máy tổ chức cán bộ làm công tác giảm nghèo chưa hoàn thiện, chưa chuyên trách, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu.

c) Một số chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo đầu tư còn dàn trải, chồng chéo, trùng lặp chế độ, đối tượng trên cùng một địa bàn, việc hỗ trợ còn mang tính bình quân, mức hỗ trợ thấp, hiệu quả chưa cao; bố trí nguồn lực chưa hợp lý, lồng ghép hoạt động giữa các chương trình khác với chương trình, dự án giảm nghèo còn hạn chế, nhất là đầu tư cho thôn nghèo, xã nghèo, huyện nghèo về cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo.

d) Việc có quá nhiều chính sách hỗ trợ, liên quan đến lợi ích trực tiếp của hộ nghèo, thôn, xã và huyện nghèo, kể cả chế độ của người dân và cán bộ ở địa phương nghèo, từ đó làm mất đi động lực phát phiển, tạo nên tâm lý trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát nghèo trong một bộ phận hộ nghèo, kể cả địa phương nghèo (duy trì một tỷ lệ hộ nghèo nhất định để thôn, xã, huyện đạt tiêu chí thôn, xã, huyện nghèo); công tác hướng dẫn, triển khai thực hiện chính sách, dự án giảm nghèo còn chậm, thiếu cụ thể. nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục, chính sách hỗ trợ sản xuất tại huyện nghèo.

đ) Công tác lập kế hoạch đầu tư xây dựng công trình đối với các dự án giảm nghèo còn nhiều hạn chế, thiếu chủ động, lập thủ tục đầu tư xây dựng công trình còn quá chậm, công trình phân tán, thiếu tập trung, nguồn vốn phân bổ dàn trải; một số dự án, chính sách tổ chức thực hiện quá chậm trễ, thiếu đôn đốc.

e) Công tác theo dõi, thống kê, báo cáo kết quả thực hiện chương trình còn chậm trễ, sai sót, thực hiện không đúng quy định và biểu mẫu hướng dẫn, ảnh hưởng đến việc tổng hợp báo cáo đánh giá của tỉnh, nhất là các huyện nghèo đã nhiều lần không thực hiện báo cáo theo đúng yêu cầu, gây khó khăn cho công tác tổng hợp, báo cáo cấp trên theo quy định. Chưa xây dựng, ban hành hệ thống theo dõi, giám sát việc thực hiện chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo và các mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo.

2.2 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

a) Về khách quan, do điểm xuất phát của tỉnh nghèo, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, thiên tai, dịch bệnh, thường xuyên xảy ra trên diện rộng; biến động chính trị và ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới; nguồn thu ngân sách của tỉnh và một số địa phương còn thấp; số lượng hộ nghèo, cận nghèo, thôn, xã và huyện nghèo của tỉnh còn nhiều, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nên rất khó khăn cho công tác giảm nghèo.

b) Về chủ quan, người đứng đầu ở một số ngành, đơn vị, địa phương thiếu quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp giảm nghèo hoặc có nhưng thiếu tập trung và chưa thường xuyên, có nơi qua kiểm tra một số cấp ủy, chính quyền ở địa phương đã không triển khai các chủ trương, chính sách do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành, chỉ đạo như Chương trình hành động số 17-CT/TU, Kết luận số 96-KL/TU về công tác giảm nghèo,... Công tác thông tin, tuyên truyền chưa đa dạng, phong phú; phân cấp quản lý còn bất cập, thiếu sự phối hợp giữa các ngành, địa phương. Vai trò của chính quyền, mặt trận, đoàn thể ở một số địa phương, cơ sở chưa phát huy. Điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo có nơi thực hiện chưa đúng quy trình, kéo dài, còn sai sót, áp đặt tỷ lệ nghèo nên chưa phản ánh đúng thực trạng. Dân trí của một bộ phận người dân thấp, ý thức tự lực vươn lên trong cuộc sống của một bộ phận hộ nghèo chưa cao, một bộ phận người dân và chính quyền địa phương không muốn thoát nghèo để hưởng cơ chế, chính sách giảm nghèo. Việc sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, khen thưởng chưa được chú trọng.

c) Một số cơ chế, chính sách giảm nghèo ban hành chưa nghiên cứu kỹ để phù hợp với từng vùng, miền, từng nhóm đối tượng đặc thù; mức đầu tư thấp, đa phần mang tính hỗ trợ trực tiếp (y tế, nhà ở, tiền điện,...), chậm điều chỉnh, bổ sung; các chính sách hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo để phát triển sản xuất chưa nhiều, mức đầu tư thấp, tổ chức thực hiện gặp nhiều vướng mắc (dạy nghề, tín dụng, xuất khẩu lao động, chương trình 135,...), chưa đáp ứng yêu cầu thực tế để đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững; một số cơ chế, chính sách ban hành nhưng bố trí nguồn lực thực hiện không kịp thời.

Phần thứ ba

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO

ĐẾN NĂM 2020

I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Tiếp tục tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, có việc làm, tăng thu nhập, thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội nhằm cải thiện, nâng cao điều kiện sống, thực hiện công bằng xã hội; tăng cường đầu tư để nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trên địa bàn tỉnh, ưu tiên đầu tư cho khu vực miền núi, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số.

2. Mục tiêu cụ thể

Tiếp tục duy trì mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân chung toàn tỉnh mỗi năm từ 2,5%-03%, trong đó khu vực đồng bằng (09 huyện, thị, thành phố) giảm từ 1,5% - 02%/năm, khu vực miền núi giảm từ 05% - 6%; các huyện nghèo, xã nghèo giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm ít nhất 6%; giảm tỷ lệ hộ cận nghèo mỗi năm từ 1,5- 02%. Không còn huyện nghèo theo tiêu chí quy định. Tiếp tục hỗ trợ đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn nghèo đặc biệt khó khăn theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

II. NHIỆM VỤ

1. Nhiệm vụ chung

a) Tập trung, ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các thôn, xã và huyện nghèo, khu vực miền núi, bãi ngang ven biển, hải đảo theo bộ theo tiêu chí nông thôn mới.

b) Hỗ trợ có thời hạn, có điều kiện cho người nghèo, cận nghèo thuộc diện chính sách giảm nghèo về sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập để phát triển sản xuất, kinh doanh và đi xuất khẩu lao động, đồng thời xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả để hộ nghèo, hộ cận nghèo học tập, tham gia, kết hợp giải quyết tốt các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội khác để thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững.

c) Tăng cường, đa dạng về hình thức và nội dung trong công tác truyên truyền để tuyên truyền chủ trương, chính sách giảm nghèo, nhất là công tác tuyên truyền vận động hộ nghèo tự nhận thức về lòng tự trọng, tự ái và trách nhiệm bản thân để chủ động, tự nguyện đăng ký thoát nghèo bền vững.

d) Thực hiện tốt công tác điều tra, rà soát, phân loại hộ nghèo (hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội, hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo) và hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo, cận nghèo mới, đồng thời áp dụng phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

đ) Thực hiện sắp xếp, tổ chức bộ máy cán bộ giảm nghèo cấp tỉnh đến cấp xã; đào tạo, tập huấn tăng cường năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo, ưu tiên cho cán bộ cấp xã ở các xã nghèo, thôn ĐBKK.

e) Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả giảm nghèo; sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác giảm nghèo; khen thưởng cá nhân, tập thể điển hình, gương mẫu trong thực hiện công tác giảm nghèo.

2. Nhiệm vụ cụ thể, trước mắt của năm 2015

a) Xây dựng và ban hành chương trình, kế hoạch hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 76/2014/NQ-QH13 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020; tiếp tục kiến nghị với các Bộ ngành trung ương để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho địa phương, cơ sở trong thực hiện chương trình, chính sách giảm nghèo; tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của tỉnh.

b) Hoàn thiện Báo cáo đánh giá chuyên đề về công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và mục tiêu, giải pháp đến năm 2020 phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015-2020.

c) Thực hiện tổng điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2016-2010; rà soát xã nghèo ĐBKK vùng dân tộc, miền núi  (Chương trình 135) và vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (Chương trình 257).

d) Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành các dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng tại các huyện nghèo, xã nghèo ĐBKK và thôn nghèo ĐBKK; thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội.

đ) Tổng kết, đánh giá chương trình hỗ trợ giảm nghèo giai đoạn 2011-2015. Đề xuất Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.

III. GIẢI PHÁP

1. Giải pháp về tổ chức thực hiện

a) Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt, hiệu quả Nghị quyết 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 và Chương trình trình hành động 17-CTr/TU ngày 01/10/2012 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW và Kết luận số 96-KL/TU ngày 22/7/2013 của Tỉnh ủy Quảng Nam về đẩy mạnh công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh.

b) Tổng kết, đánh giá, tiếp tục thực hiện đối với các chương trình, đề án, dự án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả, tác động tích cực đến giảm nghèo bền vững; đề ra biện pháp, giải pháp khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế, yếu kém thời gian qua trong thực hiện công tác giảm nghèo, đặc biệt là công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, công tác phối hợp, giám sát của MTTQ, đoàn thể nhân dân; công tác bố trí cán bộ giảm nghèo; công tác lập kế hoạch; công tác điều tra, xác định hộ nghèo, cận nghèo; công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo.

c) Tiếp tục triển khai kịp thời, hiệu quả các cơ chế, chính sách của trung ương và của địa phương về giảm nghèo nhanh và bền vững, đặc biệt là Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, Nghị quyết 30a, các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo của quốc gia; chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững.

d) Đa dạng về hình thức và nội dung trong công tác truyên truyền để tuyên truyền chủ trương, chính sách giảm nghèo, nhất là công tác tuyên truyền vận động hộ nghèo nhận thức về tính tự trọng, tự ái và trách nhiệm bản thân để chủ động, tự nguyện đăng ký thoát nghèo bền vững.

đ) Chỉ đạo hình thành đội ngũ điều tra viên chuyên nghiệp, có đủ năng lực, đạo đức, trình độ chuyên môn, am hiểu địa bàn, thực tế để trực tiếp thực hiện điều tra, rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo, đảm bảo chính xác, công bằng, không bỏ sót đối tượng.

e) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng, hoàn thiện các phần mềm quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo trực tuyến; phần mềm theo dõi tình hình (tiến độ, kết quả) thực hiên chương trình, chính sách giảm nghèo; phần mềm thực hiện chính sách khuyến khích thoát nghèo và Trang thông tin điện tử giảm nghèo của tỉnh để công khai đối tượng và tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách giảm nghèo.

f) Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo để phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, đảm bảo kịp thời, đúng tiến độ và đúng quy định (đối tượng, chế độ, nội dung hỗ trợ, đầu tư...). Tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chương trình, chính sách giảm nghèo theo đúng chỉ đạo và hướng dẫn của trung ương.

2. Giải pháp về vốn

a) Thực hiện tốt công tác giao kế hoạch vốn từ đầu năm cho các ngành, đơn vị và địa phương để chủ động tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo trên cơ sở lập kế hoạch giảm nghèo có sự tham gia theo đúng quy trình lập kế hoạch, cương quyết không giao kế hoạch vốn cho các ngành, đơn vị, địa phương không thực hiện đúng quy trình, thời gian quy định.

b) Tập trung ưu tiên bố trí ngân sách, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA, vốn tín dụng ưu đãi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội các vùng khó khăn, khu vực miền núi trên cơ sở lồng ghép các nguồn lực; bố trí đủ vốn từ nguồn ngân sách tỉnh cho các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù mà tỉnh đã ban hành theo các Nghị quyết, Quyết định của HĐND và UBND tỉnh cũng như vốn đối ứng thực hiện các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo theo quy định của trung ương và vốn đối ứng theo cam kết với các tổ chức quốc tế.

c) Tiếp tục vận động nhiều nguồn lực để phục vụ thực hiện công tác giảm nghèo như vận động Quỹ "Ngày vì người nghèo", vân động các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp để nhận đở đầu hỗ trợ các địa phương nghèo. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình kết nghĩa với các xã nghèo, thôn nghèo để đa dạng nội dung hỗ trợ cho hộ nghèo và thôn nghèo, xã nghèo và huyện nghèo.

3. Giải pháp cơ chế, chính sách

a) Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo về y tế, giáo dục theo Nghị quyết số 31/2011/NQ-HĐND nhưng điều chỉnh theo hướng như sau: Duy trì chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo thuộc đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHYT (Ngân sách tỉnh hỗ trợ 30% mức đóng; Ngân sách trung ương đã hỗ trợ đóng 70% theo Quy định của Luật BHYT). Mở rộng đối tượng và nâng mức hỗ trợ đối với chính sách giáo dục: mở rộng đối tượng là học sinh, sinh viên ngoài công lập; nâng mức hỗ trợ cấp bù học phí lên 100%. Bãi bỏ chính sách phụ cấp bằng 30% mức tiền lương cơ sở cho cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo dõi công tác giảm nghèo mà thay vào đó là bố trí 01 cán bộ giảm nghèo cấp xã (mỗi xã 01 cán bộ), làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo Kết luận số 96-KL/TU.

b) Tiếp tục thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo theo Nghị quyết số 119/2014/NQ-HĐND của HĐND tỉnh trên cơ sở làm tốt công tác điều tra xác định hộ nghèo, hộ thoát nghèo bền vững và công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục để hộ nghèo thuộc diện chính sách giảm nghèo tự nguyện đăng ký tham gia và tự lực, khắc phục khó khăn vươn lên thoát nghèo bền vững; quy định hỗ trợ có điều kiện (thời gian, điều kiện hỗ trợ) trong thực hiện chính sách giảm nghèo đối với hộ nghèo nhằm khắc phục tình trạng một bộ phận hộ nghèo không muốn thoát nghèo nhiều năm liền để hưởng chính sách.

c) Tiếp tục thực hiện các giải pháp chính sách theo Nghị quyết 55/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, trong đó nâng mức cân đối từ nguồn tăng thu, vượt thu ngân sách nhà nước, nguồn thu cấp quyền sử dụng đất và các nguồn vốn khác trên địa bàn tỉnh lên 20 tỷ đồng/huyện/năm (hiện nay là 15 tỷ đồng/huyện/năm) để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho các huyện miền núi, có tỷ lệ hộ nghèo cao chưa được hỗ trợ từ ngân sách trung ương.

d) Ban hành cơ chế hỗ trợ giảm nghèo mới, gồm:

- Cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất cho các huyện miền núi có tỷ lệ nghèo cao (chưa được hưởng chính sách hỗ trợ đặc thù của Nghị quyết 30a): Áp dụng theo nội dung tại điểm A (Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập), mục II, phần II Nghị quyết 30a.

- Cơ chế hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã có tỷ lệ nghèo cao (từ 25% trở lên) và cận nghèo cao (từ 10% trở lên) chưa được hưởng cơ chế hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng của các xã nghèo (CT 135, CT 257) thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo, của Chương trình nông thôn mới được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng theo cơ chế hỗ trợ của Chương trình giảm nghèo, mức hỗ trợ bằng 50% so với mức hỗ trợ của trung ương đối với xã nghèo.

- Ban hành chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo thuộc diện chính sách bảo trợ xã hội (không có thành viên nào trong hộ có khả năng lao động, có người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội để đảm bảo đạt tiêu chí mức sống tối thiểu (hay Chuẩn phúc lợi xã hội đầy đủ: dự kiến ở khu vực thành thị là 1,3 triệu đồng/người/tháng; ở khu vực nông thôn là 01 triệu đồng/người/tháng).

4. Giải pháp về tổ chức bộ máy cán bộ làm công tác giảm nghèo

a) Tiếp tục kiện toàn Ban Chỉ đạo giảm nghèo bền vững cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; BCĐ giảm nghèo bền vững ở mỗi cấp có Quy chế và được bố trí kinh phí từ ngân sách để hoạt động (như đối với BCĐ Chương trình nông thôn mới); phân công trách nhiệm và địa bàn theo dõi, giám sát, chịu trách nhiệm toàn diện về công tác giảm nghèo ở địa bàn được phân công.

b) Căn cứ Kết luận số 96-KL/TU ngày 22/7/2013 về đẩy mạnh công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, đề xuất bộ máy tổ chức cán bộ làm công tác giảm nghèo từ tỉnh đến xã được xây dựng theo hướng sau đây:

- Cấp xã: Bố trí mỗi xã, phường, thị trấn 01 cán bộ  theo dõi chuyên trách công tác giảm nghèo, làm việc theo chế độ hợp đồng.

- Cấp huyện: Tùy theo điều kiện về biên chế, ngân sách địa phương, cấp huyện bổ sung biên chế cho phòng Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc cho phép hợp đồng thêm lao động để theo dõi công tác giảm nghèo.

- Cấp tỉnh: Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Văn phòng giảm nghèo, bổ sung chức năng, nhiệm vụ cho Văn phòng giảm nghèo để theo nhiệm vụ phát sinh và bố trí đủ kinh phí từ ngân sách tỉnh để đảm bảo cho Văn phòng giảm nghèo hoạt động hiệu quả.

Tác giả: Hồ Xuân Khanh

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Liên Kết Website